T.T.Kh là ai? - t.t.kh
T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người...
Vậy T.T.Kh. là ai? Nam hay nữ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở ba bài thơ đăng trong
Tiểu thuyết thứ bảy và một bài trên báo Phụ nữ, rồi thôi, không thấy xuất hiện
nữa.
Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân Việt Nam cũng trích dẫn T.T.Kh.
với lời ghi chú: 'Sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao, đến
mấy người nhất quyết T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê
bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài thơ ấy là những áng thơ
kiệt tác...'.
Hôm nay xin công bố với bạn đọc, một thông tin chúng tôi được biết về T.T.Kh.
Người kể còn sống, mà T.T.Kh. cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần
phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc là văn học sử sau này.
Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú
Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc thuộc lớp thơ trước Cách mạng tháng
Tám, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ
Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết
tặng Phạm Quang Hòa khi đi hoạt động cách mạng. Nguyễn Bính cũng có bài thơ tặng
Phạm Quang Hòa mở đầu bằng hai câu:
Tôi và anh: Bính và Hòa
ở đây xa chị, xa nhà, xa em...
Và đây kết thúc bằng hai câu:
Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ...?
Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu
trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng
nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót.
T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau,
nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình
của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của
Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ
Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
Bài thơ in ra gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận.
Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu
thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng
Thâm Tâm bài thơ Đan áo.
Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là
người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ
đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu
của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.
Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở
Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. 'tắt
lịm' trên thi đàn.
Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập
thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ
mới trích một phần).
Lời bàn: Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được
mộ vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài, có bài đã gây được
vang hưởng.
Thơ hay đâu cần nhiều.
Phê-lích ác-ve (Félix Arvers, 1806-1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi
được ghi trong văn học sử Pháp. Mới hay trong 'lãnh địa' nghệ thuật, số lượng
chỉ là cái không đáng kể. T.T.Kh. cần phải đợc xem xét và đáng giá như một tác
giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Điều đó không có gì là quá
đáng.
Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà còn
hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ
rằng:
Thời gian đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà cũng quy tiên. Vả lại,
cũng vì công việc của văn sử học, nếu đã tìm ra tác giả của một tác phẩm nổi
tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố.
Hoàng Tiến
(Nhân dân Chủ nhật số 23 tháng 7-1989)